Xử lý xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam không chỉ dừng ở việc gửi đơn và chờ kết quả, mà đòi hỏi chủ sở hữu phải thực hiện đúng trình tự: xác định hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật, thu thập và bảo toàn chứng cứ trước khi bên vi phạm xóa dấu vết, xem xét nhu cầu giám định và lựa chọn cơ quan, biện pháp xử lý phù hợp. Nếu thực hiện sai trình tự, chẳng hạn công khai tố cáo trên mạng khi chưa có đủ chứng cứ, doanh nghiệp có thể tự làm suy yếu vị thế của mình.
Đối với doanh nghiệp Trung Quốc, cần lưu ý rằng, trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ theo quy định pháp luật, nhãn hiệu muốn được bảo hộ tại Việt Nam về nguyên tắc phải được đăng ký tại Việt Nam hoặc được bảo hộ thông qua hệ thống Madrid có chỉ định Việt Nam. Bài viết dưới đây trình bày từng bước xử lý, từ khi phát hiện dấu hiệu xâm phạm đến khi áp dụng biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm.
1. Nhận diện các dấu hiệu xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam

Muốn lựa chọn đúng hướng xử lý, trước hết cần xác định hành vi nào được pháp luật coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Không phải mọi trường hợp sử dụng dấu hiệu tương tự nhãn hiệu đều cấu thành hành vi xâm phạm. Việc đánh giá phải căn cứ vào các tiêu chí pháp lý cụ thể, bao gồm dấu hiệu được sử dụng, hàng hóa, dịch vụ liên quan và khả năng gây nhầm lẫn. Nếu nhãn hiệu của Quý doanh nghiệp chưa được bảo hộ tại Việt Nam, cách đăng ký được so sánh tại bài Đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam cho doanh nghiệp Trung Quốc.
1.1. Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn
Các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được liệt kê tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ:
“1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ; (…)”
Như vậy, chỉ khi dấu hiệu và hàng hóa, dịch vụ đều trùng nhau mới không cần chứng minh khả năng gây nhầm lẫn. Các trường hợp còn lại phải chứng minh khả năng người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, danh mục hàng hóa, dịch vụ ghi trong văn bằng bảo hộ có ý nghĩa quan trọng. Nếu bên vi phạm sử dụng dấu hiệu cho nhóm hàng hóa, dịch vụ mà Quý doanh nghiệp chưa đăng ký, phạm vi xử lý xâm phạm sẽ bị hạn chế hơn.
Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, phạm vi bảo hộ rộng hơn. Theo điểm d khoản 1 Điều 129, việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng, kể cả “dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng”, cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào cũng có thể cấu thành hành vi xâm phạm nếu gây nhầm lẫn về nguồn gốc. Quy định này đặc biệt đáng chú ý đối với nhãn hiệu tiếng Trung, bởi bên vi phạm có thể sử dụng tên phiên âm tiếng Việt hoặc bản dịch nghĩa thay cho chữ Hán.
1.2. Vi phạm trên bao bì, nhãn mác và phương tiện dịch vụ
Hành vi sử dụng dấu hiệu xâm phạm không chỉ giới hạn ở việc gắn dấu hiệu lên sản phẩm, mà còn có thể bao gồm việc sử dụng trên bao bì, nhãn mác, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, quảng cáo hoặc phương tiện cung cấp dịch vụ.
Trên các sàn thương mại điện tử, vi phạm thường nằm ở tên gian hàng, hình ảnh và phần mô tả sản phẩm, hoặc ở tên miền website có chứa dấu hiệu giống nhãn hiệu được bảo hộ. Dạng vi phạm này đang tăng nhanh, và nội dung trên mạng có thể bị bên vi phạm sửa hoặc xóa trong vài phút, nên việc ghi nhận chứng cứ phải làm ngay. Cách xử lý khi hình ảnh sản phẩm bị sao chép trên sàn được trình bày tại bài Hình ảnh sản phẩm bị sao chép trên sàn thương mại điện tử.
2. Quy trình xử lý xâm phạm nhãn hiệu: Từ phát hiện đến ngăn chặn
Quy trình xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam gồm bốn bước liên tiếp. Kết quả của mỗi bước là cơ sở để triển khai bước tiếp theo, vì vậy Quý doanh nghiệp cần thực hiện đúng trình tự, tránh bỏ qua hoặc đảo lộn các bước.
2.1. Bước 1: Thu thập và bảo mật chứng cứ vi phạm
Chứng cứ là cơ sở cho toàn bộ quá trình xử lý xâm phạm. Doanh nghiệp cần lưu giữ mẫu hàng vi phạm, hình ảnh, video, hóa đơn mua hàng, thông tin gian hàng và các tài liệu thể hiện việc bên vi phạm sử dụng dấu hiệu trong hoạt động kinh doanh. Trong đó, mua thử hàng và lưu giữ hóa đơn là cách đơn giản để ghi nhận thông tin người bán và giá bán.
Đối với hành vi vi phạm trên mạng, doanh nghiệp cần chụp ảnh toàn bộ trang web, bảo đảm hiển thị đường dẫn, thời gian truy cập và thông tin sản phẩm; đồng thời lưu giữ nhiều bản và sao lưu ngay. Để tăng giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử, doanh nghiệp có thể yêu cầu Thừa hành viên lập vi bằng ghi nhận nội dung trang web. Theo Nghị định 151/2026/NĐ-CP, vi bằng là nguồn chứng cứ. Cách lập vi bằng cho tin nhắn và dữ liệu điện tử được trình bày tại bài Tin nhắn WeChat có làm chứng cứ tại Tòa án Việt Nam không.
2.2. Bước 2: Yêu cầu giám định sở hữu trí tuệ khi cần
Giám định sở hữu trí tuệ là việc một tổ chức giám định có giám định viên được cấp thẻ đánh giá chuyên môn, ví dụ dấu hiệu bị nghi ngờ có trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ hay không. Nhiều người nghĩ đây là bước bắt buộc và kết luận giám định sẽ xác định có xâm phạm hay không. Thực tế không phải vậy. Khoản 5 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ, được sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15, quy định:
“5. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý. Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.”
Nói cách khác, giám định là quyền chứ không phải điều kiện bắt buộc, và kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ. Người kết luận có xâm phạm hay không là cơ quan xử lý hoặc Tòa án. Dẫu vậy, với những vụ việc dấu hiệu chỉ tương tự chứ không trùng, một kết luận giám định thường giúp đơn yêu cầu xử lý có sức thuyết phục hơn nhiều. Quý doanh nghiệp nên cân nhắc giám định khi mức độ tương tự còn có thể tranh cãi, và có thể bỏ qua khi bên kia dùng nguyên nhãn hiệu cho đúng loại hàng đã đăng ký.
2.3. Bước 3: Gửi thư cảnh báo hoặc yêu cầu xử lý từ cơ quan nhà nước
Khi đã có đủ chứng cứ, doanh nghiệp có thể gửi thư cảnh báo đến bên vi phạm trước khi đi đến thủ tục chính thức. Thư cần nêu số văn bằng bảo hộ, hành vi vi phạm cụ thể, yêu cầu chấm dứt và thời hạn trả lời. Với bên vi phạm nhỏ lẻ, một thư cảnh báo rõ ràng đôi khi đủ để họ gỡ hàng.
Nếu bên vi phạm không hợp tác, doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu xử lý kèm chứng cứ, kết luận giám định (nếu có) và giấy tờ chứng minh quyền đối với nhãn hiệu. Về thẩm quyền, khoản 1 Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ, được sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15, quy định:
“1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.”
Luật hiện hành không còn liệt kê từng cơ quan, mà giao cho người có thẩm quyền xử phạt theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trên thực tế, đơn thường được gửi đến lực lượng quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành, cơ quan công an hoặc hải quan, tùy hàng vi phạm đang được bán ở đâu, sản xuất ở đâu hay đang được nhập khẩu qua cửa khẩu nào. Chọn đúng cơ quan ngay từ đầu giúp tiết kiệm nhiều thời gian.
2.4. Bước 4: Áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm
Có ba con đường xử lý là hành chính, dân sự và hình sự. Ưu và nhược điểm của từng con đường được so sánh tại bài Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Ở đây chỉ nêu những công cụ giúp chủ nhãn hiệu ngăn chặn hành vi vi phạm nhanh nhất.
Xử lý hành chính được áp dụng theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 126/2021/NĐ-CP, Nghị định 46/2024/NĐ-CP và Nghị định 186/2026/NĐ-CP. Với hành vi bán, chào hàng, tàng trữ, trưng bày để bán hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, mức phạt tăng theo giá trị hàng hóa vi phạm, từ mức thấp nhất tại khoản 1 đến mức cao nhất tại khoản 12 Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng: (…)
12. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp giá trị hàng hóa vi phạm trên 500.000.000 đồng.”
Đây là mức phạt cho cá nhân. Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 99/2013/NĐ-CP, “Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.” Doanh nghiệp sản xuất, gắn nhãn hoặc nhập khẩu hàng hóa mang dấu hiệu xâm phạm bị phạt cao hơn, bằng “1,2 lần mức tiền phạt quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này” theo khoản 13 Điều 11, nhưng vẫn không vượt mức tối đa nêu trên. Ngoài tiền phạt, cơ quan xử lý có thể buộc loại bỏ yếu tố vi phạm, tiêu hủy hàng vi phạm và nộp lại số lợi bất hợp pháp. Hàng giả mạo nhãn hiệu được xử lý riêng theo Điều 12 Nghị định này. Con đường hành chính thường nhanh, nhưng tiền phạt nộp vào ngân sách nhà nước, không bù cho thiệt hại của chủ nhãn hiệu.
Khởi kiện dân sự cho phép yêu cầu chấm dứt hành vi, bồi thường thiệt hại và xin Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Khoản 1 Điều 206 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:
“1. Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các trường hợp sau đây:
a) Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
b) Hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu huỷ nếu không được bảo vệ kịp thời.”
Theo khoản 2 Điều 206, Tòa án quyết định áp dụng biện pháp này “trước khi nghe ý kiến của bên bị áp dụng biện pháp đó”, nhờ vậy bên vi phạm không kịp tẩu tán hàng. Với vi phạm trên mạng, khoản 7 Điều 202 (bổ sung bởi Luật 131/2025/QH15) cho phép Tòa án buộc “gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, nội dung, tài khoản, trang thông tin điện tử, ứng dụng hoặc các định danh địa chỉ Internet có liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ”. Khi không xác định được thiệt hại vật chất theo các căn cứ của luật, điểm d khoản 1 Điều 205 (sửa đổi bởi Luật 131/2025/QH15) cho phép Tòa án quyết định mức bồi thường “nhưng không quá một tỷ đồng”.
Với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, chủ nhãn hiệu còn có thể chặn hàng ngay tại cửa khẩu. Khoản 1 Điều 216 Luật Sở hữu trí tuệ quy định:
“1. Các biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.”
Muốn Hải quan tạm dừng làm thủ tục cho một lô hàng, chủ nhãn hiệu phải chứng minh quyền của mình, cung cấp thông tin để nhận diện hàng nghi ngờ, nộp đơn và nộp khoản bảo đảm. Theo điểm a khoản 2 Điều 217, khoản bảo đảm là “Khoản tiền bằng 20% giá trị lô hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó”, hoặc chứng từ bảo lãnh của ngân hàng. Thời hạn tạm dừng theo khoản 2 Điều 218 là “mười ngày làm việc”, có thể kéo dài nhưng không quá hai mươi ngày làm việc. Trong thời gian đó, chủ nhãn hiệu phải khởi kiện dân sự hoặc cơ quan hải quan phải thụ lý xử lý hành chính. Nếu không, lô hàng được tiếp tục làm thủ tục và người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại do yêu cầu tạm dừng không đúng. Biện pháp này vì vậy hiệu quả nhất khi Quý doanh nghiệp đã chuẩn bị sẵn chứng cứ và phương án xử lý trước khi lô hàng về đến cửa khẩu. Muốn Hải quan theo dõi các lô hàng trong một thời gian, chủ nhãn hiệu có thể đề nghị kiểm tra, giám sát theo khoản 3 Điều 216.
Nhiều doanh nghiệp kết hợp cả hai: dùng biện pháp hành chính hoặc biện pháp khẩn cấp tạm thời để dừng ngay hàng vi phạm, rồi theo đuổi vụ kiện dân sự để đòi bồi thường. Cách kết hợp nào phù hợp tùy vào quy mô vi phạm và thiệt hại mà Quý doanh nghiệp chứng minh được.

3. Những lưu ý quan trọng để bảo vệ quyền lợi tối ưu
Trong thực tế xử lý xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam, không ít doanh nghiệp gặp khó không phải vì thiếu căn cứ, mà vì làm sai thứ tự hoặc bỏ qua một bước có tính quyết định. Phần này nêu những sai lầm hay gặp và thời điểm nên tìm đến luật sư.
3.1. Sai lầm thường gặp khi tự xử lý tranh chấp nhãn hiệu
Sai lầm thứ nhất là công khai vụ việc quá sớm. Một số doanh nghiệp đăng tải thông tin tố cáo lên mạng xã hội khi chưa thu thập đầy đủ chứng cứ và đối chiếu với phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu. Nếu đánh giá không chính xác, doanh nghiệp có thể bị khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường do đưa thông tin sai sự thật hoặc có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Việc công khai sớm còn có thể khiến bên vi phạm kịp thời xóa dấu vết.
Sai lầm thứ hai là thu thập chứng cứ không đúng cách. Ảnh chụp màn hình thiếu đường dẫn, thời gian truy cập hoặc đã qua chỉnh sửa có thể làm giảm giá trị chứng minh. Đối với hành vi vi phạm trên sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp cần ghi nhận đầy đủ thông tin người bán, mã sản phẩm, lịch sử giao dịch và các lần thay đổi thông tin gian hàng trước khi bên vi phạm kịp xóa dữ liệu.
Sai lầm thứ ba là áp dụng biện pháp xử lý không phù hợp với từng giai đoạn. Biện pháp khẩn cấp tạm thời và biện pháp ngăn chặn hành chính có thể được sử dụng để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm; trong khi đó, khởi kiện dân sự là phương thức để yêu cầu bồi thường thiệt hại và ngăn ngừa tái phạm. Nếu chỉ tập trung vào việc khởi kiện mà chậm triển khai biện pháp ngăn chặn phù hợp, doanh nghiệp có thể phải mất nhiều tháng theo đuổi vụ kiện trong khi hàng giả vẫn tiếp tục được tiêu thụ trên thị trường.
3.2. Thời điểm vàng để liên hệ luật sư tư vấn chuyên sâu
Không phải vụ việc nào cũng cần luật sư ngay từ ngày đầu. Dẫu vậy, có những thời điểm chậm tìm hỗ trợ sẽ gây thiệt hại trực tiếp: khi vi phạm diễn ra trên quy mô lớn hoặc có tổ chức, khi bên vi phạm phủ nhận hoặc đã có phản ứng pháp lý, khi chưa xác định được nên gửi đơn đến cơ quan nào, khi cần xin biện pháp khẩn cấp tạm thời, hoặc khi chuẩn bị khởi kiện.
Luật sư giúp doanh nghiệp chọn đúng hướng ngay từ đầu và không tốn công vào những con đường kéo dài mà kết quả không như mong muốn. Điều này càng quan trọng với các vụ tranh chấp nhãn hiệu tại Việt Nam có nhiều kênh bán hàng, nhiều bên liên quan hoặc hàng vi phạm đi qua biên giới. Nếu nhãn hiệu của Quý doanh nghiệp đã bị người khác nộp đơn đăng ký trước, cách xử lý được trình bày tại bài Nhãn hiệu Trung Quốc bị đăng ký trước tại Việt Nam.
4. Khuyến nghị cho doanh nghiệp Trung Quốc khi nhãn hiệu bị xâm phạm
Từ những phân tích trên, Quý doanh nghiệp nên ưu tiên thực hiện ba việc. Thứ nhất, kiểm tra tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam đối với đúng nhóm hàng hóa, dịch vụ đang kinh doanh, bao gồm chữ Hán, phiên âm và tên tiếng Việt nếu có sử dụng. Thứ hai, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, cần thu thập và lưu giữ chứng cứ trước khi liên hệ với bên vi phạm hoặc cơ quan nhà nước, đồng thời tránh công khai vụ việc trên mạng xã hội. Thứ ba, nếu hàng hóa vi phạm được nhập khẩu từ Trung Quốc, doanh nghiệp nên cân nhắc đề nghị cơ quan Hải quan kiểm tra, giám sát ngay từ đầu, bởi việc ngăn chặn hàng hóa tại cửa khẩu thường ít tốn kém hơn so với xử lý khi hàng đã được phân phối trên thị trường.
Quý doanh nghiệp có thể tham khảo dịch vụ luật sư tư vấn doanh nghiệp của Luật Sư Tiếng Trung cho các vụ việc về nhãn hiệu.
Xử lý xâm phạm nhãn hiệu tại Việt Nam cần sự chuẩn bị ở từng bước: xác định đúng hành vi xâm phạm, giữ chứng cứ hợp lệ, giám định khi cần, rồi chọn đúng cơ quan và biện pháp ngăn chặn. Nếu Quý doanh nghiệp đang gặp hàng nhái, hàng giả nhãn hiệu và cần xử lý ngay, đội ngũ Luật Sư Tiếng Trung có thể hỗ trợ từ khâu đánh giá ban đầu đến khi vụ việc được giải quyết, bằng cả tiếng Việt và tiếng Trung. Liên hệ qua hotline 0912 085 076, email luatsutiengtrung.vn@gmail.com hoặc đến trực tiếp tại Số 29 Đường 55, An Khánh (Thảo Điền, Thủ Đức), Tp.HCM.
Đồng hành cùng doanh nghiệp Việt – Trung
Đội ngũ Luật sư Tiếng Trung – Công ty Luật TNHH Phong Gia tư vấn trực tiếp bằng tiếng Trung, đồng hành cùng doanh nghiệp từ đàm phán, soạn thảo hợp đồng đến giải quyết tranh chấp.
📞 0912.085.076
🌐 luatsutiengtrung.vn
*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Sư Tiếng Trung để được hướng dẫn cụ thể.










