Công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam: Hiệp định tương trợ tư pháp và giới hạn thực tế

Công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam là vấn đề pháp lý có cơ sở điều chỉnh khá rõ ràng thông qua Hiệp định tương trợ tư pháp song phương, song khoảng cách giữa quy định và thực tiễn xét xử lại không nhỏ. Nhiều doanh nghiệp và cá nhân đã có bản án dân sự hoặc thương mại được tuyên tại Trung Quốc, nhưng khi bước vào thủ tục yêu cầu công nhận tại Việt Nam mới nhận ra những rào cản không được ghi rõ trên giấy tờ. Hiểu đúng cả quy định pháp lý lẫn giới hạn thực tế là điều kiện để đưa ra quyết định xử lý hợp lý và tiết kiệm nguồn lực.

1. Cơ sở pháp lý về công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam

Công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam theo Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Trung năm 1998
Hiệp định tương trợ tư pháp Việt – Trung năm 1998 là nền tảng pháp lý cho việc công nhận bản án dân sự giữa hai quốc gia

1.1. Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự 1998

Nền tảng pháp lý trực tiếp điều chỉnh việc công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam là Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký kết năm 1998. Đây là điều ước quốc tế song phương trực tiếp quy định cơ chế hợp tác tư pháp dân sự giữa hai nước, bao gồm công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Phạm vi được xác định tại khoản 1 Điều 15 Hiệp định:

“1. Bên ký kết này sẽ công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ nước mình các quyết định sau đây được tuyên trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, theo những điều kiện quy định tại Hiệp định này:

1) Các quyết định của Toà án về các vấn đề dân sự;

2) Các quyết định của Toà án về việc bồi thường thiệt hại dân sự trong bản án hình sự;

3) Các quyết định của trọng tài.”

Việc công nhận không mang tính tự động: Tòa án nước được yêu cầu vẫn phải tiến hành thủ tục xét đơn để kiểm tra các điều kiện cụ thể trước khi ra quyết định. Khi đã được công nhận, theo Điều 20 Hiệp định, quyết định của Tòa án Trung Quốc có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam.

1.2. Mối quan hệ giữa Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam và Hiệp định song phương

Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thủ tục chung về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam. Theo khoản 1 Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận khi được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên. Với Trung Quốc, Hiệp định năm 1998 chính là điều ước đó, và khi Hiệp định có quy định khác với nội luật thì quy định của Hiệp định được ưu tiên áp dụng.

Trên thực tế, Hiệp định và Bộ luật Tố tụng dân sự được áp dụng song song: Hiệp định điều chỉnh điều kiện nội dung và nguyên tắc hợp tác, còn Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trình tự, thủ tục tại Tòa án Việt Nam. Sự giao thoa này đôi khi tạo ra những điểm chưa rõ ràng khi áp dụng, đòi hỏi người yêu cầu chuẩn bị kỹ hồ sơ và lý lẽ pháp lý từ cả hai nguồn.

2. Điều kiện và quy trình công nhận bản án, quyết định của Tòa án Trung Quốc

2.1. Đối tượng bản án được công nhận: Dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại

Phạm vi áp dụng của Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Trung Quốc trong lĩnh vực công nhận bản án gồm các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền của Trung Quốc. Đó có thể là bản án giải quyết tranh chấp tài sản, hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình như ly hôn, chia tài sản, tranh chấp quyền nuôi con, cũng như vụ việc thương mại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Với phán quyết trọng tài, Hiệp định không đặt ra điều kiện riêng mà dẫn chiếu sang Công ước New York. Điều 21 Hiệp định quy định:

“Bên ký kết này sẽ công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài được tuyên trên lãnh thổ của Bên ký kết kia phù hợp với công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài ký tại Niu- oóc ngày 10 tháng 6 năm 1958.”

Vì vậy, phán quyết trọng tài thương mại của Trung Quốc được công nhận tại Việt Nam theo các điều kiện của Công ước New York và trình tự tại Điều 424 Bộ luật Tố tụng dân sự, không theo các điều kiện dành cho bản án của Tòa án.

2.2. Hồ sơ cần thiết và yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự

Hồ sơ được quy định tại Điều 16 Hiệp định:

“1. Đơn yêu cầu công nhận và thi hành quyết định của Toà án có thể do các bên đương sự gửi trực tiếp cho Toà án có thẩm quyền để công nhận và thi hành quyết định hoặc do Toà án có thẩm quyền của Bên ký kết kia để công nhận và thi hành quyết định, theo cách thức được quy định tại Điều 4 của Hiệp định này.

2. Ngoài việc phải tuân theo các quy định tại Điều 7 của Hiệp định này, Đơn yêu cầu công nhận và thi hành quyết định của Toà án còn phải được gửi kèm theo:

1) Bản sao quyết định đầy đủ đã được chứng thực và những giấy tờ xác nhận quyết định đó đã có hiệu lực của pháp luật;

2) Trong trường hợp đã được tuyên vắng mặt, thì phải có tài liệu lý giải việc bên phải thi hành vắng mặt đã được triệu tập theo đúng quy định của pháp luật;

3) Tài liệu hoặc bản mô tả để xác nhận bên đương sự không có năng lực hành vi nhưng đã có đại diện hợp thức.”

Đáng chú ý là điểm 2): với bản án tuyên vắng mặt, chính người yêu cầu phải nộp tài liệu chứng minh bên phải thi hành đã được triệu tập hợp lệ.

Toàn bộ tài liệu bằng tiếng Trung phải được dịch sang tiếng Việt và chứng thực theo quy định; từ ngày 01/7/2025, theo Luật Công chứng 2024, thủ tục này được thực hiện bằng chứng thực chữ ký người dịch. Một điểm có lợi cho người yêu cầu là Điều 29 Hiệp định miễn hợp pháp hóa đối với giấy tờ của Tòa án:

“Trong khi thực hiện Hiệp định này, các giấy tờ và bản dịch do Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của hai Bên ký kết lập hoặc xác nhận, có chữ ký và đóng dấu chính thức không phải hợp pháp hoá dưới bất cứ hình thức nào.”

Như vậy, bản án, quyết định và giấy xác nhận hiệu lực do Tòa án Trung Quốc lập, có chữ ký và con dấu chính thức, không phải hợp pháp hóa lãnh sự. Thủ tục hợp pháp hóa chỉ đặt ra với các tài liệu do tổ chức, cá nhân khác lập. Nhiều hồ sơ bị chậm trễ không cần thiết vì người yêu cầu vẫn đi hợp pháp hóa toàn bộ giấy tờ do không biết quy định này.

2.3. Trình tự xem xét đơn yêu cầu tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền

Về nơi nộp đơn, khoản 1 Điều 432 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó.”

Từ ngày 01/7/2025, theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15, Tòa án có thẩm quyền xét đơn là Tòa án nhân dân khu vực, không còn là Tòa án nhân dân cấp tỉnh như trước; Tòa án cụ thể được xác định theo nơi người phải thi hành cư trú, làm việc hoặc có trụ sở, hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành.

Tòa án Việt Nam không xét xử lại nội dung tranh chấp mà chỉ kiểm tra bản án có đáp ứng các điều kiện theo Hiệp định và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hay không, rồi ra quyết định công nhận hoặc không công nhận. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị để Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét lại.

3. Giới hạn thực tế và các trường hợp bị từ chối công nhận

Các trường hợp từ chối công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam
Tòa án Việt Nam có quyền từ chối công nhận bản án nước ngoài trong nhiều trường hợp quy định rõ theo pháp luật

Hiệp định tạo ra cơ sở pháp lý cho việc công nhận, nhưng thực tiễn cho thấy nhiều giới hạn mà người yêu cầu cần lường trước. Ở phía nội luật, các trường hợp không được công nhận được quy định tại Điều 439 Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó có:

“1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.

3. Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ.

4. Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này.

(…)

8. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

3.1. Vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Trật tự công cộng)

Căn cứ từ chối phổ biến nhất trong tương trợ tư pháp dân sự Việt – Trung là việc công nhận gây phương hại đến trật tự công cộng hoặc các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, thường gọi là bảo lưu trật tự công cộng (ordre public). Căn cứ này có ở cả Hiệp định (Điều 17 dẫn chiếu Điều 9) lẫn Bộ luật Tố tụng dân sự (khoản 8 Điều 439). Điều 9 Hiệp định quy định:

“Tương trợ tư pháp có thể bị từ chối nếu Bên ký kết được yêu cầu xét thấy việc thực hiện yêu cầu gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự công cộng hoặc những nguyên tắc cơ bản của pháp luật và những lợi ích cơ bản của nước mình. Bên ký kết được yêu cầu thông báo lý do từ chối cho Bên ký kết yêu cầu.”

Căn cứ này cho phép Tòa án Việt Nam từ chối ngay cả khi bản án đáp ứng điều kiện hình thức, nếu nội dung vi phạm các nguyên tắc pháp luật nền tảng của Việt Nam.

Khái niệm “nguyên tắc cơ bản” không được định nghĩa cụ thể mà được Tòa án vận dụng theo từng vụ việc. Điều này tạo ra tính không chắc chắn khi dự đoán kết quả, nhất là với bản án liên quan đến quyền tài sản, quan hệ hôn nhân có yếu tố đặc thù hoặc thỏa thuận thương mại phức tạp.

3.2. Vấn đề thẩm quyền xét xử và tống đạt giấy tờ hợp lệ tại Trung Quốc

Các căn cứ từ chối còn lại được liệt kê tại Điều 17 Hiệp định:

“1. Nếu quyết định của Toà án chưa có hiệu lực thi hành hoặc không thể thi hành được theo quy định pháp luật của Bên ký kết ra quyết định.

2. Nếu quyết định được tuyên bởi Toà án không có thẩm quyền đối với vụ việc đó theo quy định tại Điều 18 của Hiệp định này.

3. Trong trường hợp quyết định được tuyên vắng mặt, nếu bên phải thi hành không được triệu tập theo đúng pháp luật hoặc bên không có năng lực hành vi không có đại diện hợp thức theo quy định của pháp luật của Bên ký kết ra quyết định.

4. Về cùng một vụ kiện giữa chính các bên đương sự mà trước đó đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án của Bên ký kết được yêu cầu, hoặc các bên đương sự đã khởi kiện vụ án này trước Toà án của Bên ký kết được yêu cầu, hoặc đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nước thứ ba được toà án của Bên ký kết được yêu cầu công nhận và thi hành.”

Về thẩm quyền, Điều 18 Hiệp định liệt kê các trường hợp Tòa án Trung Quốc được coi là có thẩm quyền, chẳng hạn bị đơn cư trú hoặc có cơ quan đại diện tại Trung Quốc, bị đơn chấp nhận rõ ràng bằng văn bản hoặc tham gia tranh tụng mà không phản đối thẩm quyền, hay hợp đồng được ký kết, thực hiện tại Trung Quốc. Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam cũng có các căn cứ tương ứng tại Điều 439, 440.

Đây là điểm tranh cãi thường gặp: bên phải thi hành tại Việt Nam thường lập luận rằng họ không nhận được thông báo hợp lệ hoặc không có cơ hội tự bảo vệ trong quá trình tố tụng ở Trung Quốc. Người yêu cầu công nhận vì vậy nên chuẩn bị sẵn bằng chứng về việc triệu tập, tống đạt ngay khi lập hồ sơ.

3.3. Bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang bị kháng cáo

Bản án của Tòa án Trung Quốc phải đã có hiệu lực pháp luật tại thời điểm nộp đơn (khoản 2 Điều 439). Bản án đang trong thời hạn kháng cáo, hoặc đang bị kháng cáo, kháng nghị tại Trung Quốc không đủ điều kiện để xem xét công nhận.

Người yêu cầu cần cung cấp văn bản xác nhận hiệu lực pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc cấp. Thiếu tài liệu này là lý do phổ biến khiến hồ sơ bị trả lại ngay từ giai đoạn thụ lý, dù các điều kiện khác đã đáp ứng. Cũng cần lưu ý thời hạn 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực theo khoản 1 Điều 432 đã trích ở trên.

4. Lưu ý quan trọng cho doanh nghiệp và cá nhân khi thực thi bản án

Về mặt pháp lý, công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam là việc có thể thực hiện, nhưng khả năng thành công phụ thuộc nhiều vào chất lượng chuẩn bị hồ sơ và đánh giá tình huống thực tế ngay từ đầu.

4.1. Đánh giá khả năng thi hành thực tế trước khi nộp đơn

Trước khi đầu tư thời gian và chi phí vào thủ tục công nhận, việc cần làm đầu tiên là đánh giá thực chất bên phải thi hành có tài sản đáng kể tại Việt Nam hay không, và tài sản đó có khả năng bị kê biên, phong tỏa để thi hành án hay không. Nếu không có tài sản hoặc tài sản đã bị tẩu tán, dù công nhận thành công, việc thi hành vẫn có thể bế tắc.

Bên cạnh đó, cần rà soát bản án có rơi vào các căn cứ không được công nhận đã nêu hay không, hồ sơ tại Trung Quốc có đầy đủ và đúng quy cách để hợp pháp hóa lãnh sự hay không, và quy trình tống đạt trong vụ kiện tại Trung Quốc có để lại lỗ hổng pháp lý nào hay không. Trả lời được ba vấn đề này trước khi nộp đơn sẽ giúp tránh phần lớn rủi ro.

4.2. Tầm quan trọng của việc tư vấn luật sư chuyên trách về tư pháp quốc tế

Công nhận và thi hành bản án dân sự Trung Quốc tại Việt Nam là lĩnh vực giao thoa giữa tư pháp quốc tế, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và điều ước quốc tế song phương. Mỗi yếu tố đều có chiều sâu riêng, và sự tương tác giữa chúng đôi khi tạo ra những vấn đề không thể giải quyết bằng cách đọc riêng từng văn bản.

Luật sư am hiểu cả pháp luật Việt Nam lẫn cơ chế hợp tác tư pháp với Trung Quốc sẽ giúp đánh giá tình huống chính xác, chuẩn bị hồ sơ đúng chuẩn và dự liệu các phản biện pháp lý có thể phát sinh khi Tòa án xem xét. Điều đó vừa tăng khả năng thành công, vừa tránh những chi phí không cần thiết khi tiến hành thủ tục theo hướng sai.

Nếu Quý vị hoặc doanh nghiệp đang cần tư vấn về thủ tục công nhận bản án nước ngoài, hoặc cần đánh giá khả năng thi hành một bản án Trung Quốc tại Việt Nam, Luật Sư Tiếng Trung sẵn sàng hỗ trợ phân tích tình huống cụ thể một cách thực chất và minh bạch.

Kết luận

Công nhận bản án Trung Quốc tại Việt Nam có thể thực hiện được, nhưng không đơn giản như nhiều người kỳ vọng. Hiệp định tương trợ tư pháp Việt – Trung năm 1998 tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng, song các giới hạn về trật tự công cộng, thẩm quyền, tống đạt và yêu cầu hợp pháp hóa hồ sơ là những rào cản thực tế cần được đánh giá nghiêm túc. Để xử lý đúng từ đầu, Quý vị có thể liên hệ đội ngũ Luật Sư Tiếng Trung qua hotline 0912 085 076, email luatsutiengtrung.vn@gmail.com hoặc đến trực tiếp tại Số 29 Đường 55, An Khánh (Thảo Điền, Thủ Đức), Tp.HCM để được tư vấn trực tiếp.

Đồng hành cùng doanh nghiệp Việt – Trung

Đội ngũ Luật sư Tiếng Trung – Công ty Luật TNHH Phong Gia tư vấn trực tiếp bằng tiếng Trung, đồng hành cùng doanh nghiệp từ đàm phán, soạn thảo hợp đồng đến giải quyết tranh chấp.

📞 0912.085.076

🌐 luatsutiengtrung.vn

*Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho tư vấn pháp lý chuyên sâu. Do tính chất đặc thù và các tình tiết riêng biệt của mỗi vụ việc, giải pháp thực tế có thể thay đổi tùy thuộc vào hồ sơ và bối cảnh pháp lý tại từng thời điểm. Để nhận phương án tối ưu cho trường hợp của mình, Quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Sư Tiếng Trung để được hướng dẫn cụ thể.

Chia sẻ:
Facebook
Email
X

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam: điều kiện và thủ tục
Công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam là thủ tục bắt buộc để phán quyết quốc tế có hiệu lực thi hành trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết phân tích bản chất pháp lý, điều kiện công nhận, hồ sơ, thời hạn 03 năm, trình tự tại Tòa án và các căn cứ bị từ chối công nhận.
Luật Đất đai 2024 với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: những thay đổi cần nắm
Luật Đất đai 2024 với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mang đến nhiều thay đổi về quyền tiếp cận đất đai, hình thức sử dụng đất và giao dịch nhận chuyển nhượng. Bài viết phân tích các nội dung trọng yếu và lưu ý thực tế giúp doanh nghiệp FDI triển khai dự án đúng quy định tại Việt Nam.
Tiền phạt vi phạm và tiền đặt cọc: so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc
Tiền phạt vi phạm và tiền đặt cọc là hai công cụ pháp lý quan trọng trong hợp đồng thương mại. Bài viết phân tích bản chất pháp lý, mức trần phạt, tiền đặt trước khi đấu giá và rủi ro thực tế khi áp dụng tại Việt Nam và Trung Quốc, giúp doanh nghiệp soạn thảo điều khoản đúng pháp luật.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thương mại tại Việt Nam: mốc thời gian dễ bỏ lỡ
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thương mại tại Việt Nam là 02 năm theo Luật Thương mại, nhưng xác định đúng mốc bắt đầu tính thời hiệu lại là điều nhiều doanh nghiệp dễ nhầm lẫn. Bài viết phân tích các mốc thời gian quan trọng, trường hợp đặc biệt và lưu ý thực tế để tránh mất quyền khởi kiện.

đặt lịch tư vấn

Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đồng hành cùng bạn 24/7. Hãy chọn phương thức thuận tiện nhất để kết nối với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp của chúng tôi.

z8039396965119_fcadcd24125d5a69707a82ac1c9c740a