Hai chữ này nhìn qua tưởng dịch thẳng được: công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Nhưng đặt hai đạo luật cạnh nhau thì con số lại không khớp, và chỗ lệch rơi đúng vào phần quyết định ai được lập công ty. Có chỗ còn lệch ngược chiều nhau.
Mặt chữ trước đã
有限 là hữu hạn, 责任 là trách nhiệm. Ghép lại thành 有限责任公司 — công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong đời sống, người Trung Quốc hay nói tắt thành 有限公司, và tên đăng ký của rất nhiều doanh nghiệp cũng ghi tắt như vậy.
股份 thì gồm 股 là phần vốn góp, phần hùn, và 份 cũng là phần. 股份有限公司 dịch từng chữ sẽ ra công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn.
Xin dừng lại ở đây một chút, vì đây là điểm đầu tiên hai bên lệch nhau — mà lại lệch ngay từ mặt chữ. Tên tiếng Trung của công ty cổ phần vẫn giữ nguyên hai chữ 有限, còn tên tiếng Việt thì bỏ hẳn phần trách nhiệm hữu hạn, chỉ còn ba chữ công ty cổ phần. Người đọc không quen rất dễ tưởng 股份有限公司 là một biến thể nào đó của công ty trách nhiệm hữu hạn, kiểu công ty trách nhiệm hữu hạn có chia cổ phần.
Không phải vậy. Đó là hai loại hình song song, và chữ 有限 trong tên loại thứ hai chỉ nói rằng cổ đông cũng chịu trách nhiệm hữu hạn mà thôi.
Luật Trung Quốc chỉ có hai loại công ty
Điều 2 Luật Công ty nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa — 中华人民共和国公司法, bản sửa đổi được Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua ngày 29 tháng 12 năm 2023, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 — quy định nguyên văn:
第二条 本法所称公司,是指依照本法在中华人民共和国境内设立的有限责任公司和股份有限公司。
Nghĩa là: công ty nói trong Luật này là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được thành lập trong lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo Luật này. Hết. Chỉ hai loại, không có loại thứ ba.
Còn Điều 4 quy định về giới hạn trách nhiệm. Nguyên văn:
第四条 有限责任公司的股东以其认缴的出资额为限对公司承担责任;股份有限公司的股东以其认购的股份为限对公司承担责任。公司股东对公司依法享有资产收益、参与重大决策和选择管理者等权利。
Nghĩa là: thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm với công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp; cổ đông công ty cổ phần chịu trách nhiệm với công ty trong phạm vi số cổ phần đã đăng ký mua. Thành viên và cổ đông công ty theo pháp luật được hưởng các quyền như thu lợi từ tài sản, tham gia quyết định những việc quan trọng và lựa chọn người quản lý.
Xin để ý cặp từ đối nhau trong điều luật: một bên là 认缴的出资额, số vốn cam kết góp; bên kia là 认购的股份, số cổ phần đã đăng ký mua. Cùng là trách nhiệm hữu hạn, nhưng thước đo giới hạn lại khác nhau. Khi dịch điều lệ công ty, đây chính là chỗ cần giữ đúng chữ, đừng gộp cả hai thành “phần vốn góp”.
Bên Việt Nam thì có ba
Pháp luật Việt Nam chia nhỏ hơn. Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 quy định nguyên văn:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật này. Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 51, 52 và 53 của Luật này.
Còn khoản 1 Điều 74 quy định nguyên văn:
1. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Và khoản 1 Điều 111 quy định nguyên văn:
1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 của Luật này.
Ba loại hình, ba điều luật riêng. Cái mà Trung Quốc gộp làm một thì bên Việt Nam lại tách đôi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mỗi loại một chương riêng trong luật.
Con số lệch nhau, và có chỗ lệch ngược chiều
Đây mới là phần đáng nhớ nhất của bài. Điều 42 Luật Công ty Trung Quốc quy định nguyên văn:
第四十二条 有限责任公司由一个以上五十个以下股东出资设立。
Công ty trách nhiệm hữu hạn do từ một đến năm mươi thành viên góp vốn thành lập. Một con số duy nhất, bao trọn cả trường hợp chỉ có một người.
Còn Điều 92 quy định nguyên văn:
第九十二条 设立股份有限公司,应当有一人以上二百人以下为发起人,其中应当有半数以上的发起人在中华人民共和国境内有住所。
Thành lập công ty cổ phần phải có từ một đến hai trăm người phát khởi, trong đó quá nửa số người phát khởi phải có nơi cư trú trong lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Đặt hai điều luật này cạnh khoản 1 Điều 111 bên Việt Nam sẽ thấy một điều thú vị: về số lượng người, hai hệ thống quy định ngược chiều nhau.
| Tiêu chí | Trung Quốc | Việt Nam |
|---|---|---|
| Số loại hình công ty | Hai: 有限责任公司 và 股份有限公司 | Ba, chưa kể công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân |
| Trách nhiệm hữu hạn | Một đến năm mươi thành viên, gộp cả trường hợp một người vào cùng loại hình | Tách riêng: một thành viên theo Điều 74, hai đến năm mươi thành viên theo Điều 46 |
| Công ty cổ phần — số người tối thiểu | Một người phát khởi | Ba cổ đông |
| Công ty cổ phần — số người tối đa | Hai trăm người phát khởi | Không hạn chế |
| Yêu cầu về nơi cư trú | Quá nửa số người phát khởi phải có nơi cư trú tại Trung Quốc | Điều 111 không đặt yêu cầu tương ứng |
Ở Trung Quốc, lập công ty cổ phần dễ hơn về mặt số người — một người là đủ — nhưng lại bị chặn trên ở hai trăm. Ở Việt Nam thì ngược lại: phải đủ ba người mới lập được, nhưng lên bao nhiêu cũng không sao.
Yêu cầu về nơi cư trú ở cuối Điều 92 là chi tiết mà tôi thấy rất ít tài liệu tiếng Việt nhắc tới, trong khi sức nặng thực tế của nó lại không nhỏ. Một nhóm nhà đầu tư Việt Nam muốn lập 股份有限公司 tại Trung Quốc sẽ vướng ngay ở đây, nếu quá nửa số người phát khởi không có nơi cư trú bên đó.
Vậy dịch thế nào
Với 有限责任公司 và cách viết tắt 有限公司, tôi dịch là “công ty trách nhiệm hữu hạn” rồi dừng lại ở đó — không thêm chữ một thành viên hay hai thành viên trở lên, bởi bản gốc không hề nói. Nếu hồ sơ cần biết công ty ấy có bao nhiêu thành viên thì phải đọc điều lệ hoặc thông tin đăng ký doanh nghiệp, chứ không suy ra được từ cái tên.
Đây là chỗ dễ sai nhất khi dịch hồ sơ đầu tư. Người dịch quen với luật Việt Nam hay tự động thêm “một thành viên” khi thấy công ty chỉ có một chủ sở hữu, hoặc ngược lại. Nhưng thêm vào tức là gán cho đối tác một loại hình mà luật nơi họ đăng ký vốn không có.
Với 股份有限公司, tôi dịch là “công ty cổ phần”, bỏ chữ 有限 chứ không dịch thành “công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn”. Lý do là pháp luật Việt Nam không có loại hình mang tên như vậy; dựng ra một cái tên không tồn tại thì người đọc hồ sơ sẽ đi tìm mãi mà không thấy.
Chiều ngược lại còn khó hơn. Khi dịch hồ sơ Việt Nam sang tiếng Trung mà gặp “công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên”, tôi dịch là 有限责任公司 rồi chú thích thêm bằng cách ghi rõ chỉ có một thành viên, chẳng hạn 由一名股东出资设立的有限责任公司. Tôi tránh dựng thẳng một cụm như 一人有限责任公司 làm tên loại hình, bởi Điều 42 bản hiện hành gộp trường hợp một thành viên vào chung một loại hình chứ không đặt cho nó một tên riêng.
Cái bẫy khi thẩm định hồ sơ đối tác
Phần này dành cho người làm hợp đồng và thẩm định pháp lý — theo tôi, nó còn quan trọng hơn cả chuyện dịch.
Giấy phép kinh doanh 营业执照 của Trung Quốc có ghi loại hình công ty, nhưng chữ 有限责任公司 trên đó không cho biết công ty có bao nhiêu thành viên. Muốn biết thì phải xem điều lệ công ty 公司章程 hoặc tra thông tin đăng ký công khai.
Vì sao điều đó quan trọng? Vì cách chuyển nhượng phần vốn và cách ra quyết định khác nhau. Khoản 1 Điều 46 bên Việt Nam, đã trích ở trên, nói rõ phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo các điều 51, 52 và 53 — tức là có ràng buộc, có quyền ưu tiên mua của thành viên khác. Còn điểm d khoản 1 Điều 111 lại cho cổ đông tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ hai ngoại lệ được dẫn cụ thể.
Nếu trong hợp đồng ta ghi đối tác là công ty cổ phần trong khi thực tế họ là 有限责任公司, thì mọi điều khoản về chuyển nhượng phần vốn, về thay đổi chủ sở hữu, về điều kiện tiên quyết đều có nguy cơ xây trên nền sai.
Tóm lại: Trung Quốc hai loại hình, Việt Nam ba loại hình
Trung Quốc có hai loại hình công ty, Việt Nam có ba. Cái mà phía Trung Quốc gộp làm một thì bên Việt Nam tách đôi.
有限责任公司 dịch là công ty trách nhiệm hữu hạn, không thêm bớt. 股份有限公司 dịch là công ty cổ phần, bỏ chữ 有限 trong tên. Còn con số thì xin nhớ là lệch ngược chiều: công ty cổ phần phía Trung Quốc chỉ cần một người nhưng tối đa hai trăm, bên Việt Nam cần ba người nhưng không giới hạn trên.
Và điều cuối cùng, cũng là điều tôi hay nhắc khách hàng nhất: tên loại hình trên giấy phép không cho biết số thành viên. Muốn biết thì phải mở điều lệ ra đọc. Một câu hỏi mất năm phút ở đầu vụ việc sẽ tiết kiệm được rất nhiều thứ về sau.
Nguồn tham khảo
Văn bản pháp luật Việt Nam
– Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội — bản ghi trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật. Dùng để đối chiếu khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 74 và khoản 1 Điều 111
– Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 — bản đăng Công báo số 713 + 714 và số 715 + 716 ngày 24 tháng 7 năm 2020
Văn bản pháp luật Trung Quốc
– 中华人民共和国公司法 — Luật Công ty nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bản sửa đổi năm 2023, toàn văn đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Dùng để đối chiếu Điều 2, Điều 4, Điều 42 và Điều 92
– 中华人民共和国公司法 — toàn văn trên Kho chính sách pháp quy của Tổng cục Thuế Nhà nước Trung Quốc, dùng làm nguồn đối chiếu chéo độc lập
Cần tư vấn pháp lý cho giao dịch với đối tác Trung Quốc?
Đội ngũ Luật sư Tiếng Trung – Công ty Luật Phong Gia tư vấn trực tiếp bằng tiếng Trung, đồng hành cùng doanh nghiệp từ đàm phán, soạn thảo hợp đồng đến giải quyết tranh chấp.
📞 0912.085.076
🌐 luatsutiengtrung.vn
Nội dung bài viết này chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho các ý kiến chuyên môn. Do một số tư liệu chưa được đối chiếu trực tiếp từ nguồn nguyên tác, thông tin có thể tồn tại những sai sót ngoài ý muốn. Kính mong Quý độc giả tự kiểm chứng và hết sức thận trọng trước khi áp dụng vào thực tế. Tác giả không chịu trách nhiệm về bất kỳ hệ quả nào phát sinh từ việc sử dụng các thông tin trên.











